Trang chủ Cách Phòng - Trị Bệnh cho Gà✅ Gà bị bệnh marek có nguy hiểm không? Cách điều trị

Gà bị bệnh marek có nguy hiểm không? Cách điều trị

bởi admin
112 lượt xem

Gà bị bệnh Marek là một trong những dạng bệnh ung thư truyền nhiễm nguy hiểm. Nó có khả năng lây lan nhanh và gây thiệt hại kinh tế nặng nề cho người chăn nuôi gà. Hiện nay, bệnh Marek vẫn chưa có thuốc đặc trị. Do đó, việc phòng chống, nhận biết và có cách xử lý phù hợp là việc vô cùng quan trọng.

Gà bị bệnh Marek là gì?

Năm 1907, Jozsef Marek là người đầu tiên phát hiện ra bệnh, do đó nó được đặt theo tên ông. Những đặc điểm của bệnh được mô tả lần đầu tiên như sau: gà có hiện tượng bị liệt hai chân hoặc bán liệt và bị viêm dây thần kinh ngoại biên.

Sau đó, bệnh Marek bắt đầu xuất hiện rầm rộ khắp nước Mỹ và các nước châu Âu. Cho đến những năm 1960, bệnh đã có mặt khắp các châu lục trên toàn thế giới. Năm 1978, bệnh Marek bắt đầu xuất hiện tại Việt Nam.

Bệnh Marek được biết đến thông dụng với tên gọi bệnh teo chân gà hay ung thư gà. Những tên gọi này dựa trên cơ sở những biểu hiệu của bệnh.

Ngoài những tên phổ biến trên, nó còn được mô tả với rất nhiều tên khác như: Viêm đa dây thần kinh, viêm dây thần kinh mãn tính, viêm thần kinh tủy; bệnh liệt gà truyền nhiễm, liệt gà cấp, ung thư thần kinh, ung thư mắt, gan cực đại,…

Bệnh gây nên bởi virus Herpes type B nên có khả năng lây lan nhanh trong đàn. Đàn gà mắc bệnh có tỷ lệ chết rất cao, có khi lên tới 60-70% tổng số con trong đàn. Phương thức lây nhiễm chính là thông qua đường hô hấp và đường ăn uống.

Khi bị nhiễm virus, gà có thời kỳ ủ bệnh rất dài. Thời gian ủ bệnh ít nhất là 28 ngày và thông thường là 2 tháng. Khi mắc bệnh Marek, tỷ lệ chết ở gà có khi là 100%.

Khi bị bệnh Marek, gà sẽ xuất hiện các khối u ở nhiều nơi, gây bại liệt và chết. Bệnh Marek từng được gọi là bệnh thế kỷ, bởi đó là bệnh rất nguy hiểm ở gà. Nếu không có biện pháp phòng chống và xử lý kịp thời, nó sẽ gây thiệt hại rất lớn cho ngành chăn nuôi.

Nguyên nhân gây bệnh Marek

Bệnh Marek là bệnh truyền nhiễm do nhóm virus Herpes type B gây ra trên gà. Đó là một loại RNA virus có vỏ bọc thuộc nhóm virus Herpes. Chúng có rất nhiều loại, đến nay các nhà khoa học đã phân lập được ba type virus Herpes như sau:

  • Serotype 1: Những chủng có độc lực cao, có khả năng tạo khối u trong cơ thể.
  • Serotype 2: Những chủng ở ngoài tự nhiên, không có khả năng tạo khối u.
  • Serotype 3: Chủng virus có độc lực thấp, không gây bệnh và thường được dùng làm vacxin. Chủng này tồn tại chủ yếu trên gà tây.

Sau khi xâm nhập vào cơ thể gà, virus này sẽ tồn tại mãi mãi trong cơ thể. Do đó, cả gà khoẻ lẫn gà mắc bệnh đều có thể là nguồn lây cho các cá thể khác. Bệnh Marek làm cho tế bào lympho tăng sinh nhanh chóng và trở thành các khối u (ung thư).

Thông thường, các khối u sẽ nằm ở tổ chức thần kinh ngoại biên, cơ quan nội tạng, da, cơ. Từ đó, vật nuôi bị rối loạn chức năng vận động và gây bại liệt.

Bệnh có thể nhiễm cho tất cả mọi giống gà, ở mọi giai đoạn. Trong đó gà con là đối tượng dễ bị nhiễm bệnh nhất. Gà thường mắc bệnh ở giai đoạn sau 6 tuần tuổi và chủ yếu ở 8 – 24 tuần tuổi. Ngoài gà, bệnh còn ghi nhận được trên các loại chim và các loại gia cầm khác.

Hình ảnh gà bị bệnh

Hình ảnh gà bị bệnh

Đường lây nhiễm bệnh Marek

Đây là bệnh truyền nhiễm do virus nên có thể dễ dàng lây lan nhanh chóng cho cả đàn gà. Sau khi nhiễm bệnh khoảng 14 ngày, gà bệnh đã có thể lây bệnh cho nhau. Gà mang virus là nguồn lây nhiễm mầm bệnh ra môi trường xung quanh.

Thông qua các chất tiết từ miệng, đường bài tiết, từ tế bào nang lông, tế bào biểu bì hóa sừng,… Virus được phát tán khắp nơi và nhiễm vào các cá thể khác. Bệnh lây lan thông qua sự tiếp xúc trực tiếp và gián tiếp:

  • Trực tiếp: Sự cọ xát, va chạm trực tiếp giữa gà ốm và gà khỏe.
  • Gián tiếp: Qua việc ăn uống chung, qua không khí, đường hô hấp, dụng cụ chăn nuôi. Phổ biến nhất phải kể đến việc lây lan qua đường hô hấp. Virus gây bệnh Marek có thể phát tán trong không khí xa hàng km.

Bệnh không có khả năng lây truyền qua phôi. Virus có thể tồn tại ở môi trường ngoài với thời gian dài nếu có điều kiện thích hợp. Nếu nhiệt độ môi trường khoảng 20-25 độ C, chúng có thể tồn tại vài tháng. Virus có thể sống hàng năm ở môi trường 4 độ C.

Nếu chưa được tiêm phòng, virus có thể xâm nhập và lây lan rất nhanh. Gà bị nhiễm bệnh mang virus lây truyền bệnh cho các con khác. Virus có thể lưu lại trong chuồng trại trong thời gian dài và gây bệnh cho lứa gà mới.

Triệu chứng khi gà bị bệnh Marek

Bệnh Marek có thời gian ủ bệnh dài, thường trên 28 ngày. Gà rất dễ mắc bệnh và tỷ lệ chết cao. Bệnh thường tiến triển ở hai thể cấp tính và mãn tính. Gà bị bệnh thường có một số triệu chứng dễ nhận biết như sau:

Thể cấp tính

Gà chủ yếu mắc bệnh khi 4 – 8 tuần tuổi, tuy nhiên cũng có trường hợp sớm hơn. Bệnh ít có triệu chứng đặc trưng.

  • Gà bệnh cấp tính có thể chết đột ngột hoặc có triệu chứng ủ rũ, gầy yếu trước khi chết. Tỷ lệ chết thường cao khoảng 20 – 30%.
  • Gà có triệu chứng bỏ ăn, tiêu chảy phân lỏng và giảm đẻ.
  • Gà khó thở, có khi thở nhanh, tiếng kêu rất yếu ớt do khối u xuất hiện ở dây thần kinh và phổi.
  • Có các nốt thịt thừa xuất hiện ở vai, cánh, nách, đùi,… Các nốt này có kích thước từ hạt kê đến hạt ngô và bám chặt vào lỗ chân lông. Lúc này hầu hết ở các cơ quan nội tạng của gà cũng đã xuất hiện khối u.
  • Mắt gà bị viêm, đục mờ và có thể có mủ, ảnh hưởng nghiêm trọng đến thị giác.
  • Gà bị viêm hoặc u dây thần kinh ngoại biên. Do đó chúng thường đi lại khó khăn và dần bị bại liệt, sã cánh một hoặc cả 2 bên.
  • Nếu bệnh nặng, gà có hiện tượng duỗi thẳng hai chân. Một chân duỗi về phía trước, một chân ra phía sau và lòng bàn chân ngửa lên trời.

Thể mãn tính

Xảy ra chủ yếu khi gà được 4 – 8 tháng tuổi. Bệnh thường xuất hiện ở hai thể là thể thần kinh và thể mắt.

  • Thể thần kinh: gà bệnh đi lại khó khăn, ban đầu liệt nhẹ sau đó dần dần bại liệt hoàn toàn. Đuôi gà có hiện tượng bị rũ xuống hoặc lệnh sang một bên. Cánh bị xệ xuống ở một hoặc cả hai bên. Các ngón chân gà xếp chụm lại, nếu xua đuổi, chúng vẫn chụm ngón chân để chạy.
  • Thể mắt: Trong nhiều ổ dịch, gà thường có triệu chứng bị viêm mắt. Ban đầu gà có hiện tượng bị viêm mắt nhẹ, mẫn cảm với ánh sáng và chảy nước mắt trong. Sau đó chúng dần bị viêm màng tiếp hợp rồi đến viêm mống mắt. Trong mắt và khóe mắt có mủ trắng đóng dày. Khả năng quan sát bị giảm dần đến mức không mổ trúng thức ăn. Cuối cùng dẫn đến bị mù và chết do suy nhược vì không ăn uống được.

Bệnh tích của gà

Gà chết do bệnh Marek thường có xác gầy khô do suy nhược trong thời gian dài. Xác gà chết có dấu hiệu đặc trưng là một chân đưa về phía trước và một chân về sau. Bệnh tích cũng thể hiện theo hai thể: cấp tính và mãn tính:

Thể cấp tính

Bên ngoài nhận thấy da gà sần sùi, lỗ chân lông nở rất to và nổi lên từng cục u. Nếu mổ khám sẽ thấy các khối u ở nội tạng như: gan, lách, thận, phổi, buồng trứng, dịch hoàn… Khối u có thể diễn biến ở hai thể:

  • Thể u lan tràn: U thường xuất hiện ở gan, lá lách, thận, phổi, buồng trứng, túi fabricius, dịch hoàn … Gan và lá lách bị nhạt màu và sưng to hơn nhiều lần so với bình thường.
  • Thể u hạt: Khối u biểu hiện ở dạng hạt màu trắng xám. U làm bề mặt gan sần sùi với nhiều nốt to nhỏ không đồng đều. Khối u xuất hiện ở đường tiêu hóa như dạ dày tuyến hoặc thành ruột sẽ làm thành ruột dày lên. Khối u ở cơ làm tổ chức cơ phồng to cục bộ. Khi cắt khối u này ra thấy có màu trắng xám do thâm nhiễm bạch cầu.

Thể mãn tính

Bệnh tích chủ yếu thể hiện ở việc viêm tăng sinh ở các dây thần kinh ngoại vi. Dây thần kinh ở hông và ở cánh bị sưng to hơn 4 – 5 lần so với bình thường. Một số trường hợp còn có thể bị phù thũng.

Ngoài diễn biến ở tổ chức thần kinh, bệnh còn một số bệnh tích khác như teo cơ, mù mắt và con ngươi bị biến dạng. Do các triệu chứng khá tương đồng nên Marek rất dễ bị nhầm lẫn với bệnh Leuco và bệnh Newcastle.

  • Ở bệnh Marek, khối u không có ranh giới với cơ quan bình thường. Lát cắt khô không đều màu, đôi khi có nơi tụ huyết hoặc xuất huyết. Đây là điểm khác nhau để phân biệt Marek với bệnh Leuco.
  • Bệnh Newcastle thì đặc trưng bởi những vết xuất huyết bề mặt chứ không tạo khối u. Newcastle thường gây xuất huyết ở các cơ quan nội tạng như thực quản, dạ dày tuyến, dạ dày cơ.
Nên phòng ngừa bệnh càng sớm càng tốt

Nên phòng ngừa bệnh càng sớm càng tốt

Biện pháp phòng bệnh Marek ở gà

Bệnh Marek hiện không có thuốc chữa trị đặc hiệu. Để giảm thiểu tổn thất về kinh tế, người chăn nuôi nên chấp hành nghiêm các biện pháp phòng bệnh:

  • Tiêm vacxin phòng bệnh Marek khi gà con được 1 ngày tuổi.
  • Thực hiện vệ sinh chuồng trại định kỳ để tránh mầm bệnh phát triển. Chú ý thu dọn lông gà và tiêu hủy đúng quy định vì virus có thể tồn tại rất lâu trong chân lông.
  • Nên có các khu riêng biệt để nuôi gà mái đẻ và nuôi gà con. Đặc biệt là đối với các trại gà chăn nuôi công nghiệp. Chú ý nên nuôi từng lứa riêng biệt, không nuôi lẫn lộn gà lớn và gà con.
  • Sau khi đàn gà được xuất chuồng, phải tiến hành tổng vệ sinh sạch sẽ. Phun thuốc sát khuẩn khắp khu vực chuồng nuôi và vệ sinh dụng cụ chăn nuôi. Sau đó phải để trống chuồng trại ít nhất 1 tháng mới nuôi lứa mới. Nếu đàn gà trước đó đã nhiễm bệnh, nên để trống chuồng ít nhất 3 tháng. Trong thời gian đó cần thường xuyên vệ sinh tiêu độc khử trùng khu vực nuôi.
  • Nên có chế độ dinh dưỡng hợp lý, kết hợp thêm thuốc bổ cho gà để tăng sức đề kháng.

Xử lý khi gà mắc bệnh

  • Chú ý theo dõi biểu hiện lạ của gà để phát hiện sớm và chẩn đoán đúng bệnh.
  • Cách ly gà bệnh với đàn gà khoẻ. Không được di chuyển gà bệnh khắp nơi để tránh lây nhiễm cho các hộ khác.
  • Với đàn gà bệnh, phải xử lý sớm bằng cách thiêu huỷ rồi chôn giống như bệnh cúm gia cầm. Đồng thời phải thu gom xử lý phân, rác từ đàn gà bệnh theo đúng quy định phòng dịch
  • Tuyệt đối không mua bán hoặc ăn gà bệnh.
  • Phun thuốc sát trùng khu vực chăn nuôi để tránh mầm bệnh còn sót lại. Nên vệ sinh chuồng trại định kỳ 1 – 2 lần mỗi tuần bằng thuốc sát trùng BIO-DINE. Đây là thuốc được đặc biệt khuyến cáo dành cho bệnh truyền nhiễm như Marek, Newcastle,…
  • Để trống chuồng nuôi ít nhất 3 tháng để tránh bệnh tái phát cho lứa gà mới. Trong thời gian đó nên thường xuyên khử trùng để tiêu diệt triệt để mầm bệnh.
  • Trong thời gian xử lý đàn gà bệnh, tuyệt đối không mang gà giống về nuôi.

Bài viết đã cung cấp những thông tin tổng quát về căn bệnh Marek ở gà. Để đạt hiệu quả kinh tế cao, người chăn nuôi nên tuân thủ nghiêm các biện pháp phòng bệnh như trên. Chúc anh em nhà cái K8 chăn nuôi có những lứa gà khoẻ mạnh và đạt chất lượng tốt nhất.

Bài viết liên quan

Để lại bình luận